“HẢI TUỆ: PHÊ BÌNH HỌC GIẢ ĐÀM TÍCH VĨNH DỊCH SAI KINH LĂNG-GIÀ” CÓ THẬT SỰ CHÍNH XÁC?

 “HẢI TUỆ: PHÊ BÌNH HỌC GIẢ ĐÀM TÍCH VĨNH DỊCH SAI KINH LĂNG-GIÀ”  CÓ THẬT SỰ CHÍNH XÁC?

(Thích Thanh Hoà, tức Hải Tuệ)

(Hữu ý)

I. DẪN KHỞI

Trong bài viết “Mây che đỉnh Lăng-già[1] của Hải Tuệ, tác giả đã không ngần ngại phê phán và chỉ ra “những sai lầm” trong tập Nhập Lăng-già kinh Phạn bản tân dịch của học giả Đàm Tích Vĩnh, mà như chính Hải Tuệ giới thiệu học giả này là “một nhà Phật học đương đại của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc[2]. Ở đây có thể đề cập thêm về những công trình khác của Đàm Tích Vĩnh (ĐTV), ngoài Phạn bản tân dịch của Kinh Lăng-già, ông đã thực hiện và cho xuất bản các dịch phẩm khác từ Phạn ngữ như: Thánh Diệu Cát Tường chân thật danh kinh[3]Bảo tánh luận Phạn bản tân dịch[4], và một số dịch phẩm về triết học Trung quán từ Tạng ngữ, cũng như rất nhiều bài nghiên cứu Phật học khác được phổ biến rộng rãi, với sự đối chiếu với các dịch phẩm tiếng Nhật, tiếng Tạng rất công phu[5]. Trong công tác phiên dịch của ông được giới học thuật đánh giá là rất cẩn trọng và nghiêm túc.

Vậy một nhà Phật đương đại (ĐTV) với khả năng ngôn ngữ sắc bén như thế, là tác giả của những công trình Phật học đồ sộ có tiếng trong lĩnh vực biên dịch, thì liệu có mắc phải những sai lầm “lơ tơ mơ” như Hải Tuệ đã vụ vạ hay không?

II. VỀ CỤM TỪ “PHÁP MÔN NHƯ LAI TẠNG”

Trong bài viết của Hải Tuệ, tác giả lên giọng phê phán học giả Đàm Tích Vĩnh dịch sai kinh Lăng-giànhư sau:

“Ở đây, từ ‘pháp môn’ được phiên âm từ bản Trung, thực chất trong bản Phạn chỉ ghi là ‘mukha’, với nghĩa là môn, cửa, hướng đến. ‘Pháp môn’ phải là ‘dharma-mukha’. (Lỗi này đúng ra là của dịch giả bản Trung, ông Đàm Tích Vĩnh, chứ không phải của PN. PN chỉ dịch lại lỗi ấy!)”. (hết trích)[6].

Hải Tuệ một mực khẳng định rằng “pháp môn” không phải “mukha” mà phải “dharma-mukha”, nên Hải Tuệ phán quyết ông ĐTV dịch “mukha” thành “pháp môn” là sai bét! Nhưng thực chất có phải như thế không?

1. Cơ sở ngôn ngữ

Chúng ta thử lật “Index to the Yogācārabhūmi, Chinese-Sanskrit-Tibetan” (Hán – Phạn – Tạng đối chiếu Du-già sư địa luận tổng tác dẫn) do hai học giả Nhật bản Koitsu Yokoyama và Takayuki Hirosawa biên soạn, sẽ thấy có 3 từ Sanskrit sau thường được dịch là “pháp môn” [7]

(1) dharmāya-dvāra, Tạng ngữ dịch là “chos 'du ba'i sgo”, Hán dịch là pháp môn 法門.

(2) dharma-paryāya, Tạng ngữ dịch là “chos kyi rnam grangs”, Hán cũng dịch là 法門 pháp môn.

(3) dharma-mukha, Tạng ngữ dịch là “chos kyi sgo”. Hán cũng dịch là 法門 pháp môn.

Trong Tạng ngữ, từ “chos kyi rnam grangs” cũng thường được các học giả dịch là pháp môn 法門[8].

Vậy khi tách ra khỏi hợp từ “dharma-mukha”, từ “mukha” này vẫn có thể được dịch là “pháp môn”. Theo như ghi nhận của học giả Nhật Bản Hirakawa Akira (Bình Xuyên Chương)[9] trong Phật giáoPhạn Hán đại từ điển 佛教漢梵大辭典, trang 715, mục từ “法門 Pháp môn”, thì từ Hán dịch này được chuyển ngữ từ các từ tiếng Phạn sau: 

法門 (Pháp môn): dharma-paryāya, dharma-mukha, dharma- dvāra; dharma, dharma-naya, dharma-naya-mukha, dharma-skandha, naya-mukha, nirdeśa-pada, parivarta, paryāya, mukha”.

Và căn cứ công trình Digital Dictionary of Buddhism của Giáo sư Charles Muller (giảng dạy tại University of Tokyo, Nhật Bản), thì từ 法門 Pháp môn cũng được dịch từ Phạn ngữ: “mukha”[10]; và khi biên tập Sanskrit Terms Index, mục chữ “m”, ông đã ghi giải thích từ “mukha” với các nghĩa sau: 

mukha khẩu,  hướng,  dong (dung),  đối, 法門 pháp môn目佉 mục khư, 相貌tướng mạo,  mạo,  môn,  diện, 面目diện mục, 面門 diện môn,  nhan,  nhan”[11].

Như vậy, quay trở lại ngữ cảnh xuất hiện từ “mukha” trong đoạn kinh Lăng-già mà Hải Tuệ cho rằng ông ĐTV đã dịch sai. Trong bản P.L. Vaidya[12] và  bản Bunyiu Nanjio[13], đều ghi là: “tathāgatagarbha mukha”. Tương đương trong bản Hán dịch thuộc Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, dịch như sau: 

- Taisho 16, no. 670, Lăng-già a-bạt-đa-la bảo kinh 楞伽阿跋多羅寶經, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la thực hiện năm 403, quyển 2, tr. 489b8-9, dịch là “Như lai tạng môn 如來藏門”. Việt dịch tương đương của dịch giả Thích Nhuận Thịnh[14]: “Pháp môn Như lai tạng[15].

- Taisho 16, no. 672, Đại thừa Nhập Lăng-già kinh 大乘入楞伽經, do Thật-xoa-nan-đà thực hiện năm 700-704, quyển 2, tr. 599b19, cũng dịch là “Như lai tạng môn 如來藏”. Bản dịch Việt tương đương của cố dịch giả Ni sư Trí Hải, đó là “Pháp môn Như lai tạng[16].

Riêng bản Nhập Lăng-già kinh, 10 quyển, do ngài Bồ-đề-lưu-chi dịch năm 513, minh văn không có từ “môn ” này[17].

Vậy từ “môn” (Skt. mukha, ) trong trường hợp này của kinh Lăng-già có thể được dịch là Pháp môn hay không? 

Bản tân dịch Lăng-già của ĐTV, chương 2, trang 78, dịch là “Như lai tạng pháp môn 如來藏法門[18], điều này nhất trí với bản Lăng-già Anh dịch (từ Sanskrit) của đại học giả D.T. Suzuki: “the doctrine of the Tathāgata-garbha”[19], theo đây có thể dịch là “Pháp môn Như lai tạng”. Học giả Michael Radich cũng dịch là “Tathāgatagarbha Doctrine”[20].

Từ “doctrine[21], học giả Charles Muller dùng để dịch từ “pháp môn”[22]; điều này cũng được các dịch giả Việt ngữ thực hiện tương tự, như tác phẩm “The Zen Doctrine of No-Mind” của D.T. Suzuki được TT. Nhuận Châu dịch thành “Thiền và pháp môn vô niệm”[23].

Tại Việt Nam, trong giới dịch thuật Phật học, khi đề cập đến đoạn kinh Sanskrit này, từ “tathāgatagarbha mukha”, phần lớn được các dịch giả dịch thành “Pháp môn Như lai tạng”[24]. Do vậy việc dịch từ “mukha” thành “pháp môn” được thấy rất phổ biến trong trong các tác phẩm Phật học. 

Và như chính tường thuật của dịch giả ĐTV trong bản dịch của ông, trong khi dịch kinh Lăng-già từ bản Sanskrit, ngoài việc tham khảo 3 bản dịch chữ Hán trong Đại chánh, đã kể ở trên; thì ông còn tham khảo thêm 2 bản dịch Tạng ngữ: 

1. ʼPhags pa lang-kar gshegs paʼi theg pa chen poʼi mdo  (Skt. Āryalaṅkāvatāramahāyānasūtra)[25].

2. ʼPhags pa lang-kar gshegs paʼi rin po cheʼi mdo las sangs rgyas thmas cad kyi gsung gi sning po zhes bya baʼi leʼu (聖入楞伽寶經中一切佛語心品)[26]

Và 2 bản dịch tiếng Nhật cũng được ông ĐTV dùng để tham khảo (1) là “梵文和訳入楞伽經[27] của Yasui Kōsai và (2) là “梵文入楞伽經の全訳と研究[28] của Tokiwa Gishin. 

Bản tân dịch kinh Lăng-già của ông ĐTV được thực hiện nghiêm túc như thế, ai từng đọc sẽ thấy, bản dịch được thực hiện hết sức tỉ mỉ và công phu. Thật là vô lý khi nói rằng dịch giả ĐTV và những học giả trên, trình độ lại không bằng một Hải Tuệ thuộc loại “tri thức lá cải” hay sao, để HT phải khoe mẽ sửa lưng về lỗi sai “cơ bản” cho họ? Nếu là độc giả khách quan, giữa những tác phẩm của ĐTV và một bài lá cải của Hải Tuệ vô danh, không cần nói cũng biết độc giả sẽ chọn tin ai!

2. Cơ sở kinh luận

Như đã nói ở trên, ĐTV là một nhà nghiên cứu uyên bác, nên không thể chỉ dịch theo kiểu “mot à mot” hay “word for word”, mà phải căn cứ vào cả ý nghĩa thâm mật để dịch. Vậy ĐTV đã y chỉ vào cơ sở kinh luận nào để dịch thành Pháp môn Như lai tạng?

Đầu tiên phải kể đến đó là Đại phương quảng Như lai tạng kinh[29], thuộc Taisho 16, số hiệu 667, trang 465b8, do ngài Bất Không dịch khoảng năm 746-774, nói rõ là “Như lai tạng pháp môn”. Đối chiếu với bản dịch Tạng ngữ của Tathāgatagarbha-sūtra (Như lai tạng kinh), tựa đề: “Phags pa de bźin gśegs pa’i sñiṅ po źes bya ba theg pa chen po’i mdo”, trong đó dùng từ “chos kyi rnam grangs[30] (pháp môn) kết liên với cụm từ Tathāgatagarbha, mà nguyên ngữ Sanskrit của nó làdharma-paryāya, ngài Bất Không đã dịch thành “pháp môn”, và học giả Michael Zimmermann dịch thành “Dharma discourse”[31]. Từ đó có thể thấy rằng cụm từ “Pháp môn Như lai tạng” (Tathāgatagarbha dharmaparyāya)[32] trong kinh Như lai tạng đồng nghĩa từ “Như lai tạng môn” (tathāgatagarbha mukha) trong các bản Hán dịch kinh Lăng-già. 

Về ý nghĩa của “môn” trong “Như lai tạng môn”, Đại tạng kinh 39, số hiệu 1789, 楞伽阿跋多羅寶經註解 Lăng-già a-bạt-đa-la bảo kinh chú giải, quyển 2, trang 367a19-20, nói: 

“Từ ‘môn’(mukha): tức ‘thông’ (= pratipad). Ước muốn chúng sinh từ môn này mà thể nhập”[33].

Từ thông  trong đây được hiểu là “thông hành 通行”, Skt. pratipad (=Pāli. paṭipadā), tức lộ trình, thông đạt, đồng nghĩa với Skt. mārga, nẻo vào, lối đi, đường chánh, thông đạt. Giải thích như vậy, cho thấy từ “môn” (mukha) ở đây được chỉ cho “pháp môn”.

Các kinh luận Đại thừa như Hoa nghiêm, Niết-bàn, Lăng-già, Bảo tánh, Khởi tín, y cứ trên “pháp tính của pháp môn Như lai tạng” mà dung hội các pháp[34]. Vì vậy trong kinh Hoa Nghiêm gọi “pháp môn Như lai tạng” là “pháp môn Tánh khởi”[35].

Thêm nữa, khái niệm “Pháp môn Như lai tạng” theo các nhà nghiên cứu Phật học thẩm quyền, như Đại sư Ấn Thuận thì “Pháp môn Như lai tạng” là chủ đề chính yếu được thảo luận trong Bảo tánh luận[36]; mà ông ĐTV cũng đã dịch luận này từ Phạn ngữ, tựa đề: “寶性論梵本新譯 Bảo tánh luận Phạn bản tân dịch”, thế thì ông phải rất nắm rõ những ý nghĩa trên, nên không thể nào phạm sai lầm khi dịch “Tathāgatagarbha mukha” thành “Như lai tạng pháp môn”, nhằm diễn đạt tư tưởng mà luận Bảo tánh muốn nói đến.

Nếu chịu khó đọc một chút sẽ thấy trong kinh “Vô thượng y” bản dịch của ngài Chân Đế, “từ phẩm Như lai giới, phẩm Bồ-đề, phẩm Như lai công đức, phẩm Như lai sự. Nội dung của 4 phẩm này là pháp môn Như lai tạng”[37].  Những ai muốn tìm hiểu thêm về “pháp môn Như lai tạng”, có thể đọc thêm nghiên cứu của học giả Michael Radich, nhan đề “The Mahāparinirvāṇa-mahāsūtra and the Emergence of Tathāgatagarbha Doctrine”, trong “Hamburg Buddhist Studies 5”; hoặc cũng có thể đọc các các phần sau: “mục 2, mục 3, mục 4 thuộc chương 5. Thánh điển sơ kỳ của thuyết Như lai tạng”[38]; và “từ mục 1. Pháp môn Như lai tạng trong truyền thuyết, thuộc chương 6”[39] v.v… trong tác phẩm Nghiên cứu học thuyết Như lai tạng của Đại sư Ấn Thuận thì sẽ rõ được cái gì gọi là “Pháp môn Như lai tạng”. Hoặc ngắn gọn hơn, cũng có thể tìm hiểu “chương 5, tiết 1, từ trang 156”[40], “chương 10, tiết 2, từ trang 399”[41], trong Ấn Độ Phật giáo tưởng sử của Đại sư Ấn Thuận; các công trình này đã giải thích rất chi tiết, ở đây xin miễn dẫn giải dài dòng.

Từ đây cho thấy, do bởi trình độ ngôn ngữ, trình độ Triết học Phật giáo, cũng như sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng Đại thừa của Hải Tuệ còn quá non kém, lại ngông ngang không chịu học hỏi, vì vậy không biết thế nào gọi là “Pháp môn Như lai tạng”; y còn khờ dại đến nỗi lấy cái hiểu biết cạn cợt của mình để học đòi “phê bình” người khác, nên phạm phải sai lầm ngớ ngẫn không thể chấp được.

III. THAY LỜI KẾT: HẢI TUỆ KẺ TỰ BÍT CỬA VÀO ĐẠO

Nếu ai đã từng nghiên cứu kinh Lăng-già một cách thận trọng, thì ít nhất đã một lần xem qua Nhập Lăng-già tâm huyền nghĩa của ngài Pháp Tạng[42], sẽ thấy lịch sử truyền thừa và phiên dịch kinh Lăng-già với nhiều bản dịch khác nhau, hao tốn rất nhiều tâm sức của các dịch giả và các nhà chú giải; thực hiện trải qua nhiều thế hệ và thời đại, đây không phải là một công việc dễ dàng, do hạn chế ngôn ngữ của từng thời đại, và tùy thuộc vào khả năng lãnh hội pháp tính thâm mật được chứa đựng qua từng con chữ lời kinh. Tuyệt không phải lãnh vực mà kẻ phàm tình tục lụy có thể sớ rớ vào! 

Chính vì vậy, chỉ với cụm từ “pháp môn Như lai tạng” của kinh Lăng-già, và chỉ một chữ “môn” này mà thôi, cũng đủ để Hải Tuệ lộ rõ cái “sự học vấn lừng khừng”[43] của y. Nói theo lối nhà Thiền, với tri kiến lõm bõm mà Hải Tuệ đã tự vỗ ngực xưng tên cho rằng mình đã “vào cửa” thì thật là tội nghiệp, tội nghiệp ở chỗ y không biết rằng bản thân còn đang đứng “ngoài ngõ”! Đã vậy mà y hoang đường đến nỗi không chịu tu tiến, lại muốn làm vầng nhật chiếu soi cổ kim, thì có ngày “vạn kiếp bất phục”! 

Sự sai lầm của Hải Tuệ trong khi phê bình ông Đàm Tích Vĩnh, cho thấy ý thức cuồng ngạo, phát xuất từ tham vọng đạp đổ người khác để tiến lên, nhưng bản thân lại quá ư lôi thôi và cẩu thả! Từ đó thể hiện Hải Tuệ chỉ là một kẻ “tri thức giả danh”, vì những nhà tri thức chân chánh, nhà nghiên cứu thực sự vuợt ra khỏi những “động tác bẩn” mà Hải Tuệ đã làm. 

Có thể kết luận bằng câu này: “Hải Tuệ tự hóa làm đám mây đen che phủ đỉnh Lăng-già [của Hải Tuệ]”, vì đỉnh Lăng-già tự nội chứng Thánh trí là trú xứ của Phật-đà, thì không một ác ma nào có thể che khuất nổi!

Trong thời đại mà con người dễ bị điên đảo vọng tưởng che mắt, những “kẻ chợ trời” lại ngông ngang làm bẩn thanh danh của nhà Phật học uy tín, thiết nghĩ mỗi người chúng ta cần nên đọc lại lời Phật dạy trong kinh Hiền Nhân để tự đánh chuông cảnh tỉnh: 

Kẻ nói dối chê người, sẽ bị quả báo, kẻ vu oan cho người trong sạch, chết sẽ đọa địa ngục, chịu khổ mãi mãi, khi ấy mới trách mình ngu si bạo ngược… Người không có lỗi với mình, thì mình không nên bày đặt sự sai lầm mà vu oan cho họ... Rắn độc ngậm nọc độc, nọc sẽ trở lại hại nó…Vậy nên trong kinh dạy rằng: sự độc ác do tâm sinh ra và sẽ trở lại tự hại tâm mình, cũng như sắt sinh ra chất sét, chất sét ấy sẽ trở lại tiêu hình của sắt[44].

Thật đáng thương thay cho một kẻ tự hoại và tự bít lối vào đạo, bằng một chữ “môn”! 

Sài gòn, 17/4/2020

(Hữu Ý)

_____________________________________

*Ghi chú hình ảnh: 

Ảnh 1, đoạn kinh liên hệ chụp từ Laṅkāvatāra-sūtra, ed. Bunyiu Nanjio, 1923, tr. 78.

Ảnh 2, chụp từ Phạn Hán đại từ điển 佛教漢梵大辭典, trang 715.

Ảnh 3, chụp từ Buddhist Sanskrit Texts, 3, P.L. Vaidya, 1963, tr. 33.

Ảnh 4 chụp từ The Laṅkāvatāra-sūtra, bản dịch D.T. Suzuki. London, 1932, tr. 69.

Ảnh 5, chụp từ  Nghiên cứu học thuyết Như lai tạng, TNT, 2019, trang 403.


TRÍCH LỤC I: PHÁP MÔN NHƯ LAI TẠNG TRONG KINH LĂNG-GIÀ

Trích dịch chánh văn kinh Lăng-già từ bản Sanskrit, Tỷ-kheo Nhuận Thịch dịch (Dẫn từ nghiên cứu học thuyết Như lai tạng, 2019, trang 403).

atha khalu mahāmatirbodhisattvo mahāsattvo bhagavant-ametadavocat tathāgatagarbhaḥ punarbhagavatā sūtrāntapāṭhe 'nuvarṇitaḥ / sa ca kila tvayā prakṛtiprabhāsvaraviśuddhyādiviśu-ddha eva varṇyate dvātriṃśallakṣaṇadharaḥ sarvasattvadehāntar-gataḥ / mahārghamūlyaratnaṃ malinavastupariveṣṭitamiva skandha-dhātvāyatanavastuveṣṭito rāgadveṣamohābhūtaparikalpamalamalino nityo dhruvaḥ śivaḥ śāśvataśca bhagavatā varṇitaḥ / tatkathamayaṃ bhagavaṃstīrthakarātmavādatulyastathāgatagarbhavādo na bhavati? tīrthakarā api bhagavan nityaḥ kartā nirguṇo vibhuravyaya ityātmavādopadeśaṃ kurvanti // bhagavānāha na hi mahāmate tīrthakarātmavādatulyo mama tathāgatagarbhopadeśaḥ / kiṃ tu mahāmate tathāgatāḥ śūnyatābhūtakoṭinirvāṇānutpādānimittāpraṇi-hitādyānāṃ mahāmate padārthānāṃ tathāgatagarbhopadeśaṃ kṛtvā tathāgatā arhantaḥ samyaksaṃbuddhā bālānāṃ nairātmyasaṃtrāsa-padavivarjanārthaṃ nirvikalpanirābhāsagocaraṃ tathāgatagarbha-mukhopadeśena deśayanti /… evaṃ hi mahāmate tathāgatagarbh-opadeśamātmavādābhiniviṣṭānāṃ tīrthakarāṇāmākarṣaṇārthaṃ ta-thāgatagarbhopadeśena nirdiśanti kathaṃ bata abhūtātmavikalpa-dṛṣṭipatitāśayā vimokṣatrayagocarapatitāśayopetāḥ kṣipramanutt-arāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbudhyeranniti / etadarthaṃ mahā-mate tathāgatā arhantaḥ samyaksaṃbuddhāstathāgatagarbhopa-deśaṃ kurvanti / ata etanna bhavati tīrthakarātmavādatulyam / tasmāttarhi mahāmate tīrthakaradṛṣṭivinivṛttyarthaṃ tathāgatanair-ātmyagarbhānusāriṇā ca te bhavitavyam //” Sla, p. 33. 

“Bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ bạch đức Thế tôn rằng: 

Lại nữa, bạch đức Thế tôn! Như lai tạng đã được diễn tả trong kinh, và thật sự được Ngài thuyết rằng nó có tự tánh sáng chói, thanh tịnh, thanh tịnh thù thắng, chuyển vận thành đủ ba mươi hai đặc tướng đi vào trong thân tất cả chúng sanh. Ví như viên ngọc quý có giá trị lớn bị bao bọc bởi vật dơ bẩn, Như lai tạng bị bao quanh bởi vật uẩn, giới, xứ, bị nhiễm ô bởi sự dơ bẩn của sự phân biệt không thật gồm tham, sân, si nhưng nó là thường, kiên cố, thiện và bất hoại. Bạch đức Thế tôn! Thuyết Như lai tạng như thế không phải là giống với thuyết tự ngã của ngoại đạo ư? Bạch đức Thế tôn! Những người ngoại đạo cũng giảng về thuyết tự ngã rằng nó là thường, là kẻ tạo tác, phẩm tính siêu việt, tự tại, bất diệt. 

Đức Thế tôn nói: Thật sự không phải vậy, này Đại Huệ, thuyết Như lai tạng của Ta không giống như thuyết tự ngã của ngoại đạo. Nhưng này Đại Huệ! Chư Như lai thuyết về Như lai tạng là có cùng ý nghĩa của các từ tánh không, thật tế, niết-bàn, vô sanh, vô tướng, vô nguyện, v.v… Này Đại huệ! Chư Như lai, bậc A-la-hán Chánh đẳng Chánh giác thuyết bằng cách diễn đạt PHÁP MÔN NHƯ LAI TẠNG lìa phân biệt, lìa ảo ảnh cho những kẻ phàm phu có nỗi sợ hãi từ 'vô ngã' để chúng từ bỏ nó… 

Này Đại Huệ! Như vậy, chư Như lai nhằm dẫn dắt những kẻ ngoại đạo chấp trước thuyết tự ngã nên diễn thuyết Như lai tạng, bằng việc thuyết về Như lai tạng, muốn những kẻ rơi vào tà kiến không còn tư duy về cái ngã không có thật nữa, muốn đi vào lãnh vực của ba giải thoát, nhanh chóng thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Đại Huệ! Với mục đích này, các đức Như lai, bậc A-la-hán Chánh đẳng Chánh giác tuyên thuyết về Như lai tạng… Vì vậy, này Đại Huệ! Nhằm mục đích trừ bỏ kiến chấp sai lầm của ngoại đạo và khiến chúng đi theo cái tạng vô ngã của Như lai.”

Hình 1 Bản Nanjio, tr. 78

 

Hình 2 Phật giáo Phạn Hán Đại từ điển, tr. 715

Hình 3 Buddhist Sanskrit Text 3, tr. 33

Hình 4 Bản dịch Anh ngữ của D.T. Suzuki

                                   Ảnh có chứa văn bản

Mô tả được tạo tự động

Hình 5 Bản dịch của Thích Nhuận Thịnh



[1] http://www.phattuvietnam.net/phuoc-nguyen-may-che-tren-dinh-lang-gia/

[2] http://www.phattuvietnam.net/phuoc-nguyen-tai-khong-doi-tuoi-va-thanh-phap-nhap-lang-gia-phan-ban-tan-dich/

[3] 聖妙吉祥真實名經 梵本新譯, ISBN9789866936319, 全佛, 2008.

[4] 寶性論梵本新譯, ISBN9572031902, 全佛, 2006.

[5] Thư mục xem tại: Đàm Tích Vĩnh thượng sư học tập dữ nghiên cứu 谈锡永上师学习与研究 (Đường dẫn: https://sites.google.com/site/tanxiyongshangshixuexiyuyanjiu/tan-shang-shi-wang-shang-zi-liao-hui-ji/da-zhong-guan-xi-lie/bao-xing-lun-fan-ben-xin-yi)

[6] http://www.phattuvietnam.net/phuoc-nguyen-may-che-tren-dinh-lang-gia/

[7] Index to the Yogācārabhūmi, Chinese-Sanskrit-Tibetan = 漢梵蔵対照瑜伽師地論総索引 / by Koitsu Yokoyama, Takayuki Hirosawa. Tōkyō : Sankibō Busshorin, 1996.

[8] Ibid, Index to the Yogācārabhūmi… Tham chiếu: Tibetan-Sanskrit-English dictionary by Jeffrey Hopkins, Tibetan Studies Institute, 1989.

[9] Bukkyō kan-bon dai jiten 佛教漢梵大辭典 (Buddhist Chinese-Sanskrit Dictionary). Hirakawa Akira 平川彰. Tokyo: Reiyūkai 霊友会, 1997, p. 715.

[10] http://www.buddhism-dict.net/cgi-bin/xpr-ddb.pl?q=%E6%B3%95%E9%96%80

[11] Digital Dictionary of Buddhism: Sanskrit Terms Index: m [updated: 5/7/2012] (http://www.buddhism-dict.net/ddb/indexes/term-sa-m.html)

[12] Saddharmalaṅkāvatārasūtram (Buddhist Sanskrit Texts, 3), P.L. Vaidya, 1963, tr. 33.

[13] Laṅkāvatāra-sūtra, ed. Bunyiu Nanjio, 1923, tr. 78.

[14] Dịch giả Nhuận Thịnh, tốt nghiệp khoa Phạn Tạng Phật giáo tại HVPGVN tại Tp. HCM khóa 7, từng theo học các lớp phiên dịch tại Già-lam và Hương Tích, dịch giả các tác phẩm đã xuất bản: Nghiên cứu về nguồn gốc Triết học Tánh Không, Nghiên cứu về học thuyết Như lai tạng, Lịch sử tư tưởng Phật giáo Ấn Độ và nhiều bài nghiên cứu khác. (http://nguyendoan-nghiencuu.blogspot.com).

[15] Nghiên cứu về học thuyết Như lai tạng, 2019, tr. 138-139, cht. 8.

[16] Kinh Đại thừa Nhập Lăng-già (bản 1997), Ni sư Trí Hải dịch, Hòa thượng Trí Tịnh giới thiệu & chứng minh, bản in chùa Tịnh Luật, 2546 (Bản điện tử xin xem: https://quangduc.com/images/file/HogsSr_w0ggQAF1w/kinh-dai-thua-nhap-lang-gia-thich-nu-tri-hai-dich.pdf).

[17] 《入楞伽經》卷3:「大慧!如來世尊亦復如是,彼法無我離諸一切分別之相,智慧巧便說名如來藏」(T16, no. 671, p. 529c6-8).

[18] 入楞伽經梵本新譯谈锡永, Đài Bắc, 2005.

[20] Xin xem: The Mahāparinirvāṇa-mahāsūtra and the Emergence of Tathāgatagarbha Doctrine, Hamburg Buddhist Studies 5. Series editor: Michael Zimmermann, Hamburg University Press, 2015.

[21] Về nghĩa phổ thông của từ “doctrine” này xem Oxford Reference: A synthesis of various rules, principles, norms, interpretive guidelines and values. It explains, makes coherent or justifies a segment of the law as part of a larger system of law. Doctrines can be more or less abstract, binding or non-binding. (https://www.oxfordreference.com/view/10.1093/oi/authority.20110803095724371).

[22] Xem nguồn đã dẫn trên.

[23] Thiền và pháp môn vô niệm (luận giải về Pháp bảo đàn kinh), D. T. Suzuki (biên soạn), Chrismas Humphreys (biên tập & giới thiệu). Bản dịch Việt: Thích Nhuận Châu, Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức, 2547.

[24] Xin xem, Nghiên cứu học thuyết Như lai tạng, Thích Nhuận Thịnh (dịch & chú), Nxb. Hồng Đức, chú thích (i), tr. 402-403; Lịch sử Tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, chương 8. Như lai tạng và chân thường duy tâm luận, Nxb. Hồng Đức, 2020. Hòa thượng Tuệ Sỹ dịch là “giảng thuyết Như lai tạng”, lược bỏ từ “mukha”, tham khảo Thắng man giảng luận, phần I, chương 8, tr. 130.

[25] bKaʼ ʼgyur (Peking edition), mDo sna tshogs No. 775 (Ngu 60b7-208b2;   Otani facsimile ed. vol. 29, pp. 26-85).

[26] bKaʼ ʼgyur (Peking edition), mDo sna tshogs No. 776 (Ngu 208b3-313a8;   Otani facsimile ed. vol. 29, pp. 85-127).

[27] Yasui Kōsai  安井広済,  Bonbun wayaku Nyū ryōga kyō 梵文和訳 入楞伽經.  Kyoto: Hōzō-kan, 1976.

[28] Tokiwa Gishin  常盤義伸, Lankā ni iru: Bonbun Nyū ryōga kyō no zenyaku to kenkyū.  『ランカーに入る』梵文入楞伽経の全訳と研究―. Hanazono daigaku Kokusai zengaku kenkyūjo  花園大学禅学研究所, Kenkyū hōkoku 研究報告, Vol. II  第二冊, 2 vols. 1994.

[29] 《大方廣如來藏經》:「如來藏法門」(T16, no. 667, p. 465b8).

[30] Śākyaprabha & Ye śes sde, ’Phags pa de bźin gśegs pa’i sñiṅ po źes bya ba theg pa chen po’i mdo (Tibetan translation of Tathāgatagarbhasūtra), Michael Zimmermann2002. Nguyên văn Tạng ngữ: “de bźin gśegs pa’i sñiṅ po’i chos kyi rnam graṅs ’di las brtsams te yoṅs su dris so”. Tham khảo: “De bźin gśyes sñiṅ po źes bya ba theg pa chen po’i mdo” (second Tibetan translation of the Tgs in the Newark manuscript Kanjur from Bathang), Michael Zimmermann2002.

[31] Tham chiếu A Buddha within: The Tathagatagarbhasutra (the earliest exposition of the Buddha-nature teaching in India), Michael ZimmermannSoka University, Tokyo, 2002.

[32] Về Tathāgatagarbha dharmaparyāya, xin xem bài “Who Composed the Mahāyāna Scriptures? ––– The Mahāsāṃghikas and Vaitulya Scriptures” by Seishi KARASHIMA, tr. 122-123, in trong 創価大学 国際仏教学高等研究所 (Annual Report of The International Research Institute for Advanced Buddhology at Soka University), Tokyo, 2015.

[33] 《楞伽阿跋多羅寶經註解》卷2〈第二〉:「門者能通。欲眾生從此門而入」(T39, no. 1789, p. 367a19-20).

[34] Giải thích dẫn bởi 《御注金剛般若波羅蜜經宣演》卷1:「花嚴。涅槃。楞伽等經。寶性。起信等論。皆法性宗。彼依法性如來藏門。融會諸法」(T85, no. 2733, p. 13b23-25).

[35] Dẫn theo Đại sư Ấn Thuận trong 以佛法研究佛法, chương X. 如來藏之研究, tiết 6: 《華嚴經》中,稱如來藏法門為「性起」法門 .

[36] 如來藏之研究印順著, tr. 4: “ 論如來藏法門的『寶性論』,就是依本經而造論的”. Bản dịch Việt, tr. 7: “Luận Bảo tánh - bản chuyên luận về pháp môn Như lai tạng, chính là dựa vào bản kinh này mà làm nên luận ấy”.

[37] Dẫn theo Ấn Thuận, ibid, tr. 37: 是〈如來界品〉,〈菩提品〉,〈如來功德品〉,〈如來事品〉。這四品的內容,是如來藏法門. Bản dịch Việt, tr. 64.

[38] Ấn Thuận, op.cit, 第五章 如來藏說之初期聖典, từ tiết 第二節 如來與如來藏, tr. 124 tiếp theo; bản dịch Việt. tr. 214tt.

[39] Ấn Thuận, op.cit, 第六章 如來藏學之主流第一節 傳說中的如來藏法門, tr. 147 tiếp theo; bản dịch Việt, tr. 259.

[40] Đại sư Ấn Thuận, 印度佛教思想史第五章 後期「大乘佛法」, tr. 156 tt. Bản Việt, Lịch sử tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, Nhuận Thịnh dịch, 2020.

[41] Đại sư Ấn Thuận, op.cit., 第二節 如來(藏)本具與念佛成佛, tr. 399. Bản Việt, chương X.

[42] T1790 入楞伽心玄義西明寺沙門法藏撰.

[43] Chữ dùng của GS. Phạm Công Thiện.

[44] Kinh Hiền Nhân, Hòa thượng Hành Trụ dịch.

Bài đăng phổ biến từ blog này

VẠCH TRẦN ÂM MƯU PHÁ HOẠI PHẬT GIÁO CỦA HẢI TUỆ VÀ BÁO GIÁC NGỘ