VẠCH TRẦN ÂM MƯU PHÁ HOẠI PHẬT GIÁO CỦA HẢI TUỆ VÀ BÁO GIÁC NGỘ
VẠCH TRẦN ÂM MƯU PHÁ HOẠI PHẬT GIÁO CỦA HẢI TUỆ VÀ BÁO GIÁC NGỘ
(Thắng Pháp)
I. HẢI TUỆ: KẺ SUY TƯ THIẾU MÁU
Cách đây gần ½ thế kỷ, vào khoảng thập niên 70, Giáo sư Phạm Công Thiện (PCT) đặt bút phê bình một gã ngoại đạo “hãy còn kém cỏi” nhưng lưu manh kiêu ngạo, “chuyên gia viết bậy” về Phật giáo[1]. Gần 50 năm sau, người ta bắt gặp bóng ma của kẻ ngu ngạo kia phảng phất trong giọng điệu của Hải Tuệ: một kẻ sống với ảo tưởng “duy ngã độc tôn”, tự cho mình có thể lấy nước đông hải trút vào dấu chân thỏ đế. Nhưng than ôi! Tham vọng chưa thành, tiếng hải triều chưa kịp vút, thì phải offline giữa đường, thay tên đổi nick, trốn vào bóng đêm vô tận, để rồi phải “mộng du du mộng” giữa ban ngày.
GS PCT tặng cho gã kia cái phong hiệu “suy tư thiếu máu”, nên từ lâu Cụ chẳng muốn nhắc đến tên của kẻ ấy: “muốn quên đi tên anh như quên đi một thói xấu trong chính đời mình”[2]. Tôi thì chẳng có được cái phong thái triết gia như Cụ Thiện, nên muốn quên cái tên Hải Tuệ cũng chẳng quên được. Sáng nay dạo chơi trên “vườn mạng”, lại còn bắt gặp bài viết của Nguyệt Quang, làm tôi càng nhớ da diết đến hồn thiêng “chấn nhiếp ma quân” của Cụ Thiện. Nên không thể không học theo Cụ, viết ra để thấy cái “sai lầm quá nông cạn”[3] của Hải Tuệ. Nếu nói về khả năng, danh tiếng, thì HT còn phải sắp sau gã ngoại đạo kia vài chục năm, nên việc sử dụng văn từ của Cụ Thiện để miêu tả về HT, thì đã “hết sức đề cao” HT rồi! Nếu cụ Thiện mà còn, thì cũng chẳng hoan hỷ mấy, khi biết HT được cái đề cao ưu ái đó.
Gần đây tôi có sở thích phụ giúp mấy “bác nhổ cỏ”, nhổ mấy bụi cỏ dại kia, nếu không ra sức để phụ, thì có ngày bác ấy lao nhọc vì trời nắng mà chết khát cũng nên! Do vậy, để những ai còn ngụy biện cho Hải Tuệ khỏi phải lôi thôi thêm nữa, và cũng để cho những độc giả chân chính được rõ mặt HT, tôi buộc lòng phải nêu ra đây một thông tin về Hải Tuệ, một việc làm chẳng mấy lý thú. Hải Tuệ pháp danh là T.Th.H., tên thật là Tr. Ng. H, sinh ngày 10-11-1976, nguyên quán Triệu Phong, Quảng Trị, tăng sinh khóa V - Học viện PGVN tại Tp. Hồ Chí Minh, mã số sinh viên 016; hiện đang trụ trì chùa H.L. ở P. Hải Châu, Q. Hải Châu, Tp. Đà Nẵng.
Hải Tuệ được chẩn đoán có bệnh suy tư thiếu máu, là bởi vì trong bài viết của HT gọi ngôi trường mình từng học suốt mấy năm liền là “hí trường” (như tôi sẽ phân tích dưới đây) thì xin hỏi HT đã học gì và làm gì trong cái hý trường đó? Vậy thì người ta có thể hiểu rằng, những cái mà HT đã tiếp nhận và nay đang ứng dụng từ cái Hí trường ấy cũng chỉ là “bả hí”[4], tức trò hề, tạp kỹ hay mánh lới lừa bịp mà thôi. Người xưa gọi những hành vi như của HT là “nhi hí”[5] tức như trò đùa của trẻ con, nên cụ Thiện gọi những kẻ như vậy thiếu máu là phải, rất thiếu nữa là khác. Thiếu máu đến mức độ, HT. dám lộng ngôn tạt nước bẩn vào mặt vào các vị cố Hòa thượng… chuyện này, bài viết của tác giả Nguyệt Quang đã phân tích quá rõ, ở đây xin miễn lập lại.
Cộng thêm HT là một người dám bất kính với cả Bổn Sư, vô phép vô lễ với Thầy tổ, không có sự tôn kính tối thiểu với ngay Bổn sư đang còn hiện tiền của y, thì chẳng có việc ác gì mà y không dám làm, chẳng có việc vu vạ gì mà dám phịa ra cả.
Tôi nói Hải Tuệ là kẻ “giả trá” là có cơ sở và sẽ chứng minh điều này. Nếu thật sự HT là người thông đạt cổ kim, thuần thục cổ ngữ sinh ngữ, như HT đã khoe mẽ và những “đồng minh bất hảo” của HT tung hô, thì chẳng việc gì phải “vay mượn” từ các dịch phẩm của Anh Đỗ Quốc Bảo, trong khi phê phán HT có thể tự mình chuyển dịch lấy; và cũng chẳng việc gì trong bài “Hóa giải xung đột dưới quan điểm của Phật giáo” HT phải “cóp nhặt thiếu thông minh”[6] nguyên xi đoạn kinh văn trong Duy-ma-cật sở thuyết của một vị Hòa thượng, rồi chễm chệ để tên Hải Tuệ vào, như thể đã được một HT “đa văn” dịch từ bản nguyên tác, những người hiểu chuyện thì cố gắng lờ đi, thông cảm cho một hạng vô văn phàm phu như Hải Tuệ.
Vì vậy, nếu HT thật sự “quang minh chính đại” và có “nội công phi phàm”, thì HT đã không ưu tiên sử dụng chiêu trò “character assassination” (ám sát tư cách cá nhân)[7] trong phần lớn các bài viết của y để “trả đũa” những người mà y ganh ghét nhằm thỏa mãn dục vọng; đây là chiêu trò quen thuộc của những người không đủ năng lực thảo luận tri thức căn cứ trên những luận chứng xác thực. Những nhà tri thức chân chính, chẳng bao giờ sử dụng đến chiến thuật bẩn đó. Chừng ấy thôi, cũng đủ để thấy HT là kẻ tư duy thiếu máu đến độ nào.
II. ÂM MƯU PHÁ HOẠI PHẬT GIÁO: QUA VIỆC XUYÊN TẠC CÔNG TRÌNH ĐẠI TẠNG KINH VIỆT NAM VÀ XUYÊN TẠC HỌC VIỆN PGVN TP.HCM.
1. Xuyên tạc Học viện PGVN tại Tp. Hồ Chí Minh (viết tắt: HVPGVN)
Hải Tuệ đã không một chút ngần ngại, cao giọng gọi nơi mình cắp sách theo học suốt 4 năm liền là “hí trường”. Vậy mục đích thật sự của HT ở đây có đơn giản chỉ là mua vui cho “dân mạng” hay không? Dĩ nhiên là không. Tôi sẽ phân tích sơ lược để các độc giả thấy được âm mưu hiểm độc của HT đằng sau lớp vỏ bọc ngụy thiện kia; đức Phật cũng từng dạy, có khi chứa sau lớp vỏ bọc tốt đẹp đó là đầy dẫy sự nhớp nhúa bẩn thỉu, khiến người đời phải một phen gớm ghê.
Theo Hán-Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng, giải thích từ “hí trường 戲場”: chỗ vui chơi, nơi diễn tuồng; một số từ điển khác ghi thêm nghĩa: rạp hát, kịch trường. Trong bài thơ “Bồng Nga mộ 蓬莪墓”, đã phác họa hình ảnh: “偎儡棚中雜戲場 Ôi lỗi bằng trung tạp hý trường” (Một hý trường tạp nham chẳng khác bù nhìn trong giàn dưa)[8]. Hý trường tạp nham thì chẳng còn gì để diễn tả hơn nữa. Nhưng bằng óc giả tưởng phong phú, cộng thêm sự liều lĩnh “hiếm có khó tìm”, đã giúp Hải Tuệ hình thành một tư duy “kệch cỡm”: hạ bệ một “Phật học viện” xuống để so sánh với một “rạp hát”.
Vậy cái “Phật học viện rạp hát” đó (theo cách dùng của HT), nếu thật sự là một rạp hát đi chăng nữa thì nó cũng phải có nguồn gốc, lịch sử, thành viên, hay tiền thân chứ? Khỏi nói thì giới Phật giáo đều biết HVPGVN do cố Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu sáng lập, và đương nhiệm là Hòa thượng Viện trưởng Thích Trí Quảng.
Khái lược quá trình hình thành thì HVPGVN: “được thành lập vào năm 1984 với tên gọi là Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam, có nguồn gốc từ trường Đại học Vạn Hạnh, ngôi trường đại học đầu tiên của Phật giáo tại Việt Nam đã đào tạo thành công một thế hệ thanh niên Việt Nam hiện đang giữ những vai trò then chốt trong các cơ quan nhà nước”[9]. Như vậy, độc giả có thể hiểu rằng, HT muốn nói HVPGVN là một rạp hát kế thừa từ “rạp hát Đại học Vạn Hạnh”, giống như “truyền nghề” vậy đó, rạp hát thì mới truyền nghề cho rạp hát chứ; và cũng bởi vì “ông chủ khai sáng” của “hai rạp hát” này là một, đó là cố Hòa thượng Minh Châu. Cho nên bằng phép so sánh cố Hòa thượng Minh Châu và Hòa thượng đương nhiệm Thích Trí Quảng như là “ông chủ rạp hát”, HT đã hất một chậu nước bẩn vào nhị vị Hòa thượng, xúc phạm nghiêm trọng đến thanh danh, công sức và thành quả của quý ngài. Và cũng bằng cách đó, HT đã so sánh những vị giảng viên của Đại Học Vạn Hạnh như: cố HT. Trí Tịnh, cố HT. Mãn Giác, HT. Tuệ Sỹ… và các vị giảng viên của HVPGVN từ lúc thành lập đến nay như: Giáo sư Lê Mạnh Thát, HT. Phước Sơn, HT. Thiện Nhơn, v.v.. đều là “ả đào ca kĩ” trong cái rạp hát kia sao? Và vô hình trung với lối so sánh này của HT, y cũng tự “trét phấn tô son” nhận mình là một “ả ca kỹ má đào” chăng?! Thật là quái lạ với phép so sánh của HT, vậy suốt mấy chục năm qua, từ khóa I của Trường Cao cấp Phật học VN đến khóa XIV của HVPGVN đã và đang đào tạo ra biết bao nhiêu hệ Tăng sinh, trong số đó có những người đáng tuổi cha chú của HT, như HT. Bửu Chánh, TT. Viên Trí, TT. Tâm Đức, TT. Phước Đạt…. không lý những vị này cũng là “đào nương ca nương” được cái rạp hát kia đào tạo hành nghề “hát dạo” như Hải Tuệ hay làm sao? Thật không thể nào chấp nhận cái luận điệu lôi thôi phi lý ấy. Đó là chưa nói lúc những vị cựu học tăng này xuất gia đầu Phật, HT còn đang ở “kiếp trước”. Vậy mà ngày nay, có một HT ngông cuồng vô độ đến thế, thật là bất hạnh cho những ai tin theo luận lý điên cuồng của HT.
Nhưng âm mưu thật sự của Hải Tuệ đâu chỉ là phỉ báng chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, căn bản nhất HT tự cho mình cái quyền phê phán vô nghĩa, bôi nhọ danh tiếng HVPGVN từ quá khứ đến hiện tại, phủ nhận những thành quả lịch sử, nhằm thể hiện ý đồ dẫn dắt quần chúng đi đến chỗ đổ vỡ niềm tin vào Phật giáo, tín đồ mất lòng tin với Tam Bảo, với Giáo hội. Có lẽ vì suy tư thiếu máu, nên HT tự lừa mình sớm quên đi những lần “hạ bạn”[10] trong lúc đi hát dạo lôi thôi, để tỏ ra cao thượng chăng?
Hải Tuệ “bởi nông cạn lôi thôi nên trở thành nguy hiểm”[11], nguy hiểm ở chỗ, y muốn phá hoại một nền giáo dục Phật giáo Việt Nam hiện tại được gầy dựng bởi bao đời Tổ tiên Sư trưởng, bằng cách muốn dùng những lời lẽ vu khoát trong bài viết của y “một tay che trời”, khiến cho tăng ni sinh trẻ do dự với những mái trường Phật học, hoài nghi về các bậc Tôn trưởng, hiểu sai về nguồn mạch Phật giáo, để từ đó đánh mất cơ hội được học tập Phật pháp, huấn luyện thân tâm, với ý đồ hòng cô lập các trường Phật học. Dẫn đến hậu quả là khiến cho Phật giáo mất đi lượng lớn thế hệ Tăng sĩ trẻ kế thừa, làm mai một dòng giống Phật-đà, thì lòng người chắc hẳn sẽ điên đảo, không còn xác tín vào Chân lý Phật. Đó mới chính là quỷ trá hiểm độc của HT nhằm phá hoại cơ đồ Phật giáo VN. Tội lỗi như vậy thật vô lượng vô biên, không thể nói cho cùng tận.
Tôi muốn kết luận mục này, rằng với giọng điệu càn quấy của HT đã thật sự chứng minh cho người khác thấy HT là kẻ “hữu nhãn vô châu”! Có lẽ HT vì đang say giấc hải triều, nên lạc bước đến cõi Thiên thai [của Hải Tuệ] mơ hồ mộng du, nhưng nào ngờ Thiên thai đó [của Hải Tuệ] cũng chỉ là “hí trường”, mà HT là một “ca nương” trong đó. Tôi tặng cho HT hai câu kết trong một bài thơ của Lê Quý Đôn:
世人苦作天台夢,
不想天台亦戲場.
“Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng,
Bất tưởng Thiên Thai diệc hý trường”[12].
2. Xuyên tạc “Dự án Đại tạng kinh Việt Nam”: mưu đồ phá hoại Pháp bảo của Phật giáo Việt Nam
Trong bài “Giới thiệu công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh Tiếng Việt”, Hòa thượng Tuệ Sỹ đã đưa ra nhận định:
“Sự nghiệp xây dựng Đại Tạng Kinh tiếng Việt như vậy không thể là cống hiến cá biệt của một cá nhân hay tập thể, của một Giáo hội hay hệ phái, mà là sự nghiệp chung của toàn thể Tăng tín đồ Phật giáo Việt Nam, không chỉ một thế hệ, mà liên tục trong nhiều thế hệ, cùng tồn tại và tiến bộ theo đà thăng tiến của xã hội và nhân loại…. sự nghiệp hoằng pháp đệ nhất tối thắng này được tiến hành vững chắc và liên tục từ thế hệ này cho đến nhiều thế hệ tiếp theo, duy trì ngọn đèn Chánh pháp tồn tại lâu dài trong thế gian vì lợi ích và an lạc của hết thảy chúng sanh” (hết trích)[13].
Như đã thấy trong bài viết của tác giả Nguyệt Quang đã chứng minh Hải Tuệ một bề công kích công trình thực hiện ĐTK VN. Thật là khó lòng chấp nhận, khi Hải Tuệ, một kẻ được nhà Phật rộng tay giáo dưỡng, lại ẩn núp trong cửa Phật để làm chuyện “khi sư diệt tổ”, phản phúc cội nguồn. Cũng dễ hiểu thôi, bởi vì mục đích của HT xuất gia đâu phải vì cầu Phật đạo, mà vì che lấp bộ mặt quỷ dữ để hóa thành sâu mọt gặm nhấm ngôi nhà Phật tổ. Hải Tuệ đã sử dụng chiêu trò “đánh rắn phải đánh dập đầu”[14], tức đánh vào dự án thực hiện ĐTK Việt Nam của VNCPHVN, là sự nghiệp hiển dương Pháp bảo quan trọng bậc nhất của Phật giáo Việt Nam và đánh vào những người đứng đầu đảm tránh việc thực hiện ĐTK ấy. Vì lẽ, Hải Tuệ coi Pháp bảo, coi các bậc Sư trưởng tiền bối và đồng đạo của mình là “độc xà” chăng? Nên phải đánh dập cái đầu đó để thỏa mãn tâm tưởng hủy diệt Chánh Pháp, muốn cho VNCPHVN không thể hoàn tất ĐTK VN trong nhiệm kỳ này.
Kế thừa sự nghiệp trọng yếu của các thế hệ tiền bối, trong thời gian qua, VNCHVN vẫn tiếp tục thực hiện sứ mạng xây dựng ĐTK tiếng Việt. Theo giao phó của VNCPHVN, người đặc trách công trình ĐTK này là Thượng tọa Nhật Từ. Nhưng hết lần này đến lần khác Hải Tuệ vu khống, chụp mũ TT. Nhật Từ, nào là xuất bản trái phép, nào là cướp đoạt vị trí của người khác v.v.. Ý đồ của HT muốn làm giảm sút uy tín của TT. Thích Nhật Từ, làm Tăng ni phật tử hoài nghi về Thượng tọa, làm mất đi những trợ duyên tốt, hòng cản trở sự ra đời của Đại tạng kinh Việt Nam là hoài bão của cố Hòa thượng Minh Châu, khiến cho Pháp bảo không được lưu truyền rộng rãi, khiến cho ước nguyện chung của Phật giáo Việt Nam thành vô vọng. Ý đồ đó với dụng tâm khích lệ sự vọng động của chúng ma và ngoại đạo, giúp quân đội của ma được khuếch trương.
Việc HT hất nước bẩn vào dự án thực hiện ĐTKVN và vu khống cho TT. Thích Nhật Từ, ý đồ đã quá rõ, HT muốn Phật giáo đồ Việt Nam không có cơ hội được chiêm ngưỡng một bộ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt hoàn chỉnh, muốn cho các thế hệ Tăng lữ mai hậu mất đi cơ hội học Phật tu Phật một cách chân chính. Có thể gọi chiến lược của HT là chiến lược “ngu dân”: mong cho tín đồ bị “mù chữ Phật pháp”. Trong khi bao nhiêu nỗ lực của VNCPHVN kế thừa ước nguyện “xóa mù chữ Phật pháp” qua việc thực hiện ĐTKVN của các thế hệ tiền bối, mà người đặc trách là TT. Nhật Từ, thì Hải Tuệ lại tạt nước dơ, muốn phá hoại Pháp bảo vô giá và công sức của bao thế hệ. Trong Thủy sám nói: người đặt kinh sách trong rương hòm, để mối mọt hư hại, mình đã không tụng đọc lại không chịu truyền bá cho người khác, tội lỗi đã vô cùng; huống chi trong kinh Đức Phật đã nhiều lần dạy: Cúng dường Pháp bảo là sự cúng dường tối thượng, thế mà HT đã không cúng dường Chánh Pháp, lại còn ôm lòng hiềm hận hủy hoại Pháp bảo.
Nói rõ ra, bản thân Hải Tuệ đã không đủ năng lực truyền bá chân lý Phật và không ước nguyện thực hành theo con đường của các bậc Thánh giả thì thôi, lại còn dốc sức xuyên tạc phá hoại Phật giáo, sống càn quấy theo kiểu “ngôn hạnh hoang sơ, hư triêm tín thí”[15], thí uổng phí cơm gạo đàn việt, núp bóng nhà Phật mà không thấm chút tương chao, quả đúng như lời Tổ Quy Sơn quở trách: “tích niên hành xứ thốn bộ bất di, hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị” (đường đi năm cũ thì một tấc một bước cũng không đổi dời, quàng hoảng suốt cả một đời thì còn lấy gì mà nương tựa và cậy nhờ)[16].
III. KẾT LUẬN: HẢI TUỆ KẺ LẠM XEN VÀO TĂNG ĐOÀN.
Tóm lại, ý đồ phá hoại Phật giáo của Hải Tuệ có thể vắn tắt qua mấy điểm sau:
1. Bôi nhọ, phá hoại hình ảnh của Tăng đoàn và các bậc Tôn trưởng, Hòa thượng, Thượng tọa trong Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ. Nhằm chia rẽ sự hòa hiệp của chúng Tăng, khiến nội bộ Phật giáo bất hòa.
2. Đưa ra những nội dung sai sự thật về TT. Thích Nhật Từ, nhằm cản trở công trình Đại tạng kinh Việt Nam do VNCPHVN chủ trương, mà người đặc trách là TT. Thích Nhật Từ. Đã thể hiện rõ mưu đồ phá hoại “sự nghiệp hoằng pháp đệ nhất tối thắng” của Hải Tuệ, khiến cho Pháp bảo không được lưu hành, tuyệt mất tại thế gian.
3. Phỉ báng HVPGVN tại Tp. HCM là “rạp hát”, với ý đồ phá hoại nền giáo dục Phật giáo được kế thừa từ quá khứ đến hiện tại. Khiến cho Tăng ni phật tử do dự hoài nghi về đường hướng giáo dục Phật giáo hiện tại, từ đó làm gián đoạn sự truyền thừa Phật pháp, hòng làm cho ngọn đèn chánh pháp bị ẩn tắt, cuối cùng xóa sổ Phật giáo Việt Nam.
Với ý đồ hiểm độc như thế, Hải Tuệ lại không e dè ngụy thiện, lớn giọng kêu gọi người khác hóa giải xung đột theo định lý: “tâm tịnh thế giới tịnh”. Tâm lý của HT vẩn đục như thế, lại còn tư duy thiếu máu, mà miệng luôn đòi tịnh hóa thế gian, thì quả là rất hiểm độc, rất xảo trá. Đến đây có lẽ nên đọc lại một đoạn trong kinh Duy-ma (bản dịch của HT. Tuệ Sỹ) đã được Hải Tuệ “mượn dùng” trong bài viết của HT nhằm để “phô diễn” khả năng cổ ngữ:
“Nếu Bồ-tát muốn làm thanh tịnh quốc độ, hãy làm thanh tịnh tự tâm. Tùy theo tâm tịnh mà Phật độ tịnh”[17].
Nhưng rất tiếc, Hải Tuệ không phải là một vị Bồ-tát! Chư Tổ gọi hạng người như HT là kẻ “lạm xí tăng luân”: lạm xen và trà trộn vào trong hàng ngũ tăng lữ để thực hiện hành vi phá hoại Chánh pháp, thì dẫu “trải qua trăm ngàn đời kiếp đi nữa, cái nghiệp mình đã làm ra vẫn không tiêu mất: một khi nhân duyên gặp nhau đủ mặt thì quả báo của nó mình phải tự chịu lấy”[18]. Thật đáng thương thay!
Ngày 13/4/2020
(Thắng Pháp)
[1] Xin xem: Phạm Công Thiện, Phê bình luận án Nguyễn Văn Trung, 1973.
[2] Chữ dùng của ông PCT.
[3] Chữ dùng của ông PCT.
[4] Xem Hán-Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng, Nxb. Khai Trí, 1975, từ 把戲 bả hí: làm trò cho người khác coi.
[5] Xem sách đã dẫn, 兒戲 nhi hý: trò chơi của trẻ con.
[6] Từ dùng của cụ PCT.
[7] Dictionary Cambridge, giải thích character assassination: an intentional attempt to spoil the reputation of a person by criticizing them severely, especially unfairly, in the newspapers or on television (https://dictionary.cambridge.org/vi/dictionary/english/character-assassination)
[8] Kiếm hồ hoài cổ (thơ chữ Hán danh nho Việt Nam - tập 2), Nguyễn Hữu Thăng dịch, Nxb. Hội Nhà văn, 2019.
[9] https://thuvienhoasen.org/a5937/hoc-vien-phat-giao-viet-nam-tai-tp-ho-chi-minh
[10] Từ đặc ngữ miền Trung. Xin miễn giải thích ở đây.
[11] Từ cụ Thiện dùng.
[12] Cao Tự Thanh, Việt Nam bách gia thi, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005, dịch nghĩa: “Người đời gắng mộng Thiên Thai ấy/ Đừng tưởng Thiên Thai như hý trường.” Bản dịch khác: “Người đời gắng mộng Thiên Thai ấy, Đừng tưởng Thiên Thai như hý trường (https://www.thivien.net/L%C3%AA-Qu%C3%BD-%C4%90%C3%B4n).
[13] Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a21481/19-gioi-thieu-cong-trinh-phien-dich-dai-tang-kinh-tieng-viet-tt-thich-tue-sy
[14] Mã Giang Lân, Tục ngữ và ca dao Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 1999 (tái bản lần thứ 5).
[15] Quy Sơn cảnh sách, đã dẫn trên, tr. 109: “lời nói và việc làm trống rỗng, sơ suất, hưởng dụng một cách vô ích cúng phẩm của tín đồ”.
[16] Sách đã dẫn, tr. 109.
[17] Duy-ma-cật sở thuyết, Hòa thượng Tuệ Sỹ dịch và chú, Nxb. Hồng Đức, 2017, tr. 83.
[18] Trích trong Quy Sơn, Sa di giới và Sa di ni giới, Hòa Thượng Thích Trí Quang dịch, 1998, tr. 108